Mồi tôm giả câu mực ống, mực lá có 28 chấu

Mồi tôm giả câu mực có 28 chấu

Câu mực đêm là một trong những hoạt động giải trí hấp dẫn không thể bỏ lỡ trong chuyến du lịch. Dưới đây là một số sản phẩm của Fishermen để bạn có thể có một chuyến câu tuyệt vời. Cách câu mực đêm giúp bạn có thêm kinh nghiệm hữu ích, nâng cao hiệu suất câu.

Vua Câu Cá muốn chia sẻ với các bạn cách câu cá mực truyền thống tức là sử dụng cần câu như cần câu cá bình thường nhưng với dây câu và mồi tôm giả câu mực thật bắt mắt.

Con mực gần như luôn tấn công mồi khi mồi đang rơi xuống, thế nên, Squid Jig với nhiều tỉ lệ chìm khác nhau thực sự có giá trị trong một chuyến câu.

Nếu câu cạn, nước trong, người ta thường chọn một con mồi nhỏ với một tốc độ chìm chậm, điều này sẽ giúp giữ cho Jig luôn ở phía trước con mực đang háu đói. Khi câu ở khu sâu hơn, sử dụng mồi nặnghơn, chìm nhanh hơn, để giữ cho mồi gần đáy, tức trong vùng chiến, lâu hơn.

Squid Jig của Nhật bản có kích thước phổ biến là 3.5 vì kinh nghiệm cho thấy mồi 3.5 có tốc độ chìm xấp xỉ 1 mét trong 3 giây, người câu có thể xác định được thời gian chìm của mồi. Tuy nhiên, nhiều người nói rằng kích thước mồi không quá quan trọng.

Về màu sắc, cũng giống như nguyên tắc chọn mồi trong câu mồi giả, sử dụng màu sậm, tối khi ánh sáng môi trường yếu và màu sắc tươi sáng đặc biệt là trắng và trắng trong cho ban ngày.

Cách Lựa Chọn Máy Câu Và Dây Câu Mực

Chủ yếu sử dụng dụng cụ câu spinning. Máy Daiwa size 2000 đến 2500, hoặc Shimano 2500-3000. Kỹ thuật này khuyến nghị thiết lập mức hãm càng lỏng càng tốt vì chỉ giật ở phần đầu xúc tu, mà cơ chế động lực học của cơ thể con Mực không thuận lợi cho việc bị kéo về phía các xúc tu, kéo mạnh thì có thể xé chúng ra.

Hãm lỏng là một quy trình chuẩn cho tất cả các phong cách câu mực, đặc biệt là câu mực nước sâu, ở đó sự kháng nước nhiều hơn và bộ hãm xiết chặt một cách tự nhiên khi bạn để cho dây dài ra.

Dây khuyến cáo là PE0.6 hoặc mảnh hơn. PE0.4 được dùng trong nửa đầu mùa câu mực vì lúc này con mực còn nhỏ. Vùng biển Việt Nam ta có rất nhiều loài mực cư trú, riêng loài mực ống đã lên tới 25 loài, phân bố rộng khắp từ Bắc chí Nam,

Đông nhất là quanh các khu vực Cát Bà, Cái Chiên, CôTô, Hòn Mê-Hòn Mát và khu vực Bạch Long Vĩ, nhất là vào mùa xuân. Và Phan Rang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Cà Mau, Côn Đảo, Phú Quốc.

Mực, đặc biệt là mực ống, thường cư trú ở mực sâu 30-50m, là loài rất nhạy với sự thay đổi thời tiết và ánh sáng.

Vào ban ngày, do lớp nước trên mặt rất nóng nên nhiệt độ nước tăng cao, các loại mực ống thường lặn sâu xuống đáy biển, và trồi lên mặt lại vào ban đêm. Vào các tháng hanh khô, mực ống di chuyển đến những nơi có mực nước sâu dưới 30 mét.

 

“Giã cào bay”
Tàu “giã cào bay”.

NDĐT – Trong dòng tin tức ồ ạt tuần vừa rồi, có một tin ít được chú ý, đó là tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn trong kỳ họp thứ ba HĐND tỉnh Bình Thuận ngày 7-12, cụm từ “giã cào bay” lại được làm nóng lên. “Giã cào bay” là gì vậy?

 

 

Xin được nói ngay, đó là cụm từ mà những ngư dân vùng biển Trung Bộ dùng để chỉ những tàu giã cào có công suất lớn từ 90CV trở lên, đánh bắt theo phương thức “tận diệt” nguồn lợi thủy hải sản.

Nghề giã cào vốn là một nghề truyền thống của ngư dân vùng biển ngang. Tuy nhiên, giã cào truyền thống chỉ là những chiếc thuyền nhỏ của ngư dân nghèo, đánh bắt ven bờ và quanh quanh vùng lộng. Ở một số vùng biển, kể cả những thuyền nhỏ này cũng bị hạn chế hoạt động, với những quy định về mắt lưới, về thời gian và địa điểm khai thác.

Những tàu giã cào có công suất lớn mới xuất hiện những năm gần đây, vì công suất lớn, tốc độ cao nên gọi là “giã cào bay”. Những tàu này chỉ được cấp phép đánh bắt ở ngoài khơi và ở một số vùng biển nhất định. Nhưng vào mùa cá nam hằng năm (từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch), khi mà các loài thủy hải sản vào gần ven bờ và vùng lộng để sinh sản, thì những tàu “giã cào bay” đã bất chấp quy định, “ép sát bờ” để nhanh chóng “vơ vét” tận thu triệt để các nguồn lợi. Với tốc độ lớn, khai thác kiểu “chụp giật”, “vơ vét” như vậy, lợi ích mà các tàu này thu lại rất lớn. Theo một số chủ tàu, chỉ cần một chuyến đi biển trong ngày, có tàu đã thu được từ hàng trăm triệu đồng.

Từng chứng kiến những chủ tàu sau chuyến giã cào về, nhận những cọc tiền và xếp đầy lên mặt bàn nước trước mắt, bỗng dưng chúng tôi cảm thấy “rùng mình”.

Vì lợi ích trước mắt, họ bất chấp cả việc tận diệt mọi nguồn lợi của biển, chính là nơi sinh kế lâu dài của họ và con em họ.

Một chủ tàu có bốn cặp tàu giã cào công suất lớn tại vùng biển Sa Huỳnh, Quảng Ngãi mà chúng tôi có dịp gặp gỡ trò chuyện trong chuyến thực tế vừa qua cho biết, tàu giã cào bay có “hiệu quả khai thác” rất cao bởi tàu đi tới đâu thì hầu như không còn con gì ở đó có thể thoát khỏi. Tất cả các loài thủy hải sản lớn bé đã chui vào lưới giã cào là bắt hết.

Khai thác ở ven bờ và vùng lộng, các tàu giã cào công suất lớn ấy đã làm tổn hại nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản trong mùa sinh sản. Thậm chí, hơn thế nữa, tàu giã cào bay còn có thể kéo phăng tất cả mọi thứ trong lúc hành nghề, trong đó có cả những lưới rê, dây câu của những ngư dân nghèo. Vì vậy, ở các vùng biển phía nam Trung Bộ, “giã cào bay” còn là nỗi hãi hùng của ngư dân nghèo làm nghề biển theo phương thức truyền thống. Khi các lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý thì những tàu giã cào bay luôn có thái độ chống trả, coi thường luật pháp và vì vậy cũng luôn xảy ra xung đột, gây mất an ninh trật tự trên biển.

Tại phiên họp HĐND tỉnh Bình Thuận vừa qua, các đại biểu chất vấn về việc vì sao các tàu giã cào bay vẫn ngang nhiên hoành hành khá lâu mà không có sự can thiệp quyết liệt của các cơ quan quản lý. Thậm chí, các đội tàu giã cào còn có hành vi theo dõi ngược lại các hoạt động tuần tra, giám sát trên biển của lực lượng chức năng. Có đại biểu đặt câu hỏi: có hay không việc “bảo kê, bao che” cho các tàu giã cào bay hoạt động? Những câu hỏi như vậy, tuy chỉ đặt ra ở một địa phương và có phần yếu ớt, lại hết sức cần thiết đối với tình trạng chung không chỉ của một tỉnh, một vùng biển. Thực tế, vấn đề khai thác các nguồn lợi thủy sản một cách bừa bãi, tận diệt, thậm chí nguy hiểm đã xuất hiện và tồn tại thời gian khá dài trên nhiều vùng biển của cả nước.

Cũng giống như người nông dân trên đồng ruộng, gặt mùa này lo gieo hạt cho mùa sau, thì ngư dân đánh bắt trên biển, họ nghĩ gì đến ngày mai, khi mà các nguồn tôm cá đã bị tận diệt? Họ có khi nào nghĩ rằng, một ngày con cháu họ dong những chiếc tàu công suất lớn và hiện đại ra biển, nhưng không còn gì để đánh bắt?

Việc quản lý nguồn lợi thủy hải sản trên biển không chỉ trông chờ mỗi ý thức của người dân. Rõ ràng, ở đây, bên cạnh việc cần kíp ban hành những quy định về pháp lý đủ mạnh, thì vai trò, trách nhiệm của chính quyền, các cơ quan quản lý, chức năng cần phải được làm rõ.

Cũng chính vì vậy, tại cuộc họp nói trên, trước những chất vấn của các đại biểu HĐND tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Thuận đã cho biết, sẽ kiến nghị tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tiến tới ban hành quy định cấm giã cào bay trên cả nước ngay trong tháng này.

Đó thực sự là một vấn đề cần làm ngay để giải quyết vấn nạn “giã cào bay’, kịp thời bảo vệ nguồn lợi của biển, bảo đảm lợi ích kinh tế lâu dài.

Tàu “giã cào bay” tận diệt hải sản.

 
 
 
Nghề lưới xù (lưới bung dùng)

Nghề lưới chấp (lưới xù, lưới quét) xuất hiện đầu tiên ở tỉnh Nam Định. Về nguyên lý khai thác giống như lưới rê truyền thống của tỉnh BR – VT, tuy nhiên lưới chấp có nhiều tầng khai thác với kích thước mắt lưới khác nhau. Nghề này  du nhập vào tỉnh BR – VT từ năm 2006, chỉ hơn 6 năm qua số lượng ghe làm nghề lưới chấp của tỉnh BR – VT đã là vài chục chiếc.

Ông Thuyết bên vàng lưới chấp.
Ông Thuyết bên vàng lưới chấp.

Ông Nguyễn Văn Thuyết ở ấp Phước Thọ, xã Phước Hưng, huyện Long Điền cho biết, cuối năm 2006 ông là một trong những người đầu tiên ứng dụng nghề này ở tỉnh BR-VT. Lúc đó đóng ghe nhỏ, sử dụng vàng lưới chỉ có 3 hải lý. Từ  chiếc ghe duy nhất ngày đó, gia đình ông đã có thêm 3 chiếc nữa. Những chiếc ghe sau này có công suất đến 400CV, chiều dài đến 22m, vàng lưới dài gấp 3 lần so với trước, được trang bị đầy đủ các thiết bị để khai thác các vùng biển xa bờ, giá trị mỗi chiếc gần 5 tỉ đồng.

Sở dĩ số lượng ghe của gia đình ông tăng lên nhanh chóng là nghề lưới chấp hiện nay đang chứng tỏ ưu thế rõ rệt. Theo ông Thuyết, nghề này hiện nay đánh bắt 90% là cá thu còn lại là cá ngừ và cá cờ nên giá trị rất cao, trong khi đó phí tổn lại thấp hơn một số nghề khác. Đánh bắt bằng lưới chấp, bình quân mỗi chuyến biển (15 – 20 ngày) sử dụng khoảng 400 cây đá, 2000 lít dầu cộng với các chi phí khác phí tổn khoảng 50-60 triệu đồng. “Trong khi đó sản lượng khai thác bình quân khoảng 3 tấn/chuyến. Với giá bán khoảng 80.000 đồng/kg, mỗi chuyến biển doanh thu lên đến hơn 240 triệu đồng. Có chuyến biển trúng khai thác cũng được 4-6 tấn cá thu”, ông Thuyết cho biết.

Hiện nay riêng xã Phước Hưng và phường 6 thành phố Vũng Tàu số lượng ghe làm nghề lưới chấp đã phát triển đến vài chục chiếc và đang có xu hướng tăng dần.

So với nghề lưới chấp của tỉnh Nam Định trước kia cấu tạo đến 3 tầng, sợi lưới bùng nhùng (không xoắn) thì nghề  lưới chấp của tỉnh BR-VT đã có những cải tiến đáng kể để khai thác cho phù hợp. Cụ thể, lưới chấp của tỉnh BR-VT hiện nay chỉ cấu tạo 2 tầng. Tầng trên kích thước mắt lưới từ 12-15cm, tầng dưới kích thước lên đến 16cm. Các sợi lưới có độ xoắn vừa phải. Theo ông Thuyết cấu tạo lưới như trên để giảm bớt độ phức tạp trong quá trình đan sửa lưới và dễ dàng vận hành trong khai thác, hơn nữa độ xoắn chỉ lưới vừa phải để vừa bảo đảm cá dễ đóng lưới nhưng không bị trầy xước. Một lý do quan trọng khác là khi chỉ lưới để bùng nhùng, tuổi thọ của lưới rất thấp, chi phí khấu hao rất nặng bởi mỗi vàng lưới hiện nay giá đến gần 2 tỉ đồng.

Về kỹ thuật khai thác, nghề lưới chấp không đòi hỏi nhân lực đi biển nhiều, mỗi chuyến biển chỉ cần 7 người là đủ. Mỗi tháng chỉ khai thác khoảng từ 15 đến 20 ngày, bởi vào những ngày từ mồng 10-16 âm lịch khi trăng sáng tỏ việc khai thác không có hiệu quả. Mỗi ngày bình quân thả 1 giác lưới, thời gian thu lưới của nghề này rất lâu, nếu vàng lưới dài 8 hải lý thì thời gian thu lưới từ 6-7 tiếng. Thông thường các thuyền trưởng chọn đầu hôm thả lưới và bắt đầu thu lưới từ lúc 2 giờ sáng đến nửa buổi ngày hôm sau.

Lưới chấp có kích thước mắt lưới lớn nên chỉ đánh bắt những con cá từ 3kg trở lên và hoàn toàn không gây tổn hại đến nguồn lợi thủy sản như các kiểu đánh bắt khác. Tuy nhiên do vàng lưới dài  9-10 hải lý (gần 20km) do đó nghề này thường bị đe dọa bởi các ghe khai thác làm nghề dã cào (lưới kéo). Ông Thuyết cho biết, hầu hết chuyến biển nào các ghe làm nghề lưới kéo của ông cũng bị hư hỏng từ 1 đến 2 cheo lưới, thiệt hại ít nhất cũng 8 triệu đồng. “Mặc dù đã trang bị dèn tín hiệu gắn trên các vàng lưới nhưng một số thuyền trưởng vẫn bất chấp cho ghe đi qua”, ông Thuyết cho biết.

Khó khăn thứ nữa đó là vốn đầu tư. Theo ông Thuyết để trang bị một chiếc ghe hoàn chỉnh làm nghề lưới chấp hiện nay chi phí cũng lên đến 5 tỉ đồng. Hầu hết những ngư dân đều rất khó tiếp cận được với nguồn vốn vay từ các hệ thống ngân hàng. “Những chiếc ghe của chúng tôi đóng mới hiện nay chủ yếu huy động từ anh em và một số vay nóng từ bên ngoài, nếu ai đó được may mắn vay được các nguồn vốn ưu đãi thì số lượng không thấm vào đâu, chúng tôi rất mong các chương trình vay vốn ưu đãi được đến với người làm biển, để hỗ trợ ngư dân đóng tàu lớn đánh bắt xa bờ”, ông Thuyết nói.